Diễn đàn Giáo Viên Tiểu học
_Sponsors_
>>>>> Home Sáng Kiến Kinh nghiệm Tiểu học Rèn luyện kĩ năng viết bài tập làm văn cho học sinh tiểu học
Rèn luyện kĩ năng viết bài tập làm văn cho học sinh tiểu học PDF. In Email
Viết bởi Administrator   
Thứ ba, 21 Tháng 6 2011 13:52

SKKN: Rèn luyện kĩ năng viết bài tập làm văn cho học sinh tiểu học

(DVHNN) 1.Kĩ năng viết bài tập làm văn nhằm rèn luyện cho học sinh khả năng viết bài văn theo đề bài đã cho và thuộc các thể loại, kiểu bài khác nhau. Bài tập làm văn viết là kết tinh nhiều mặt của kĩ năng, năng lực sử dụng tiếng Việt của học sinh được rèn luyện qua từng lớp học.

ở phân môn tập làm văn, bên cạnh việc sử dụng các kĩ năng đã được hình thành và phát triển từ các môn học khác như: nghe, nói, đọc, viết (phân môn tập đọc); giải nghĩa từ, dùng từ, đặt câu (phân môn luyện từ và câu); viết đúng chính tả, chính âm (phân môn chính tả)…thì phân môn tập làm văn còn hình thành và phát triển một hệ thống các kĩ năng riêng. Ngoài kĩ năng có tính phổ biến chung cho mọi kiểu bài văn do nội dung chương trình quy định, thì một số kiểu bài văn thuộc các phong cách khác nhau lại có thêm vài kĩ năng có tính đặc thù.

Trong phân môn tập làm văn, kĩ năng làm văn, viết bài văn có thể chia thành các nhóm sau đây:

a.Nhóm kĩ năng giúp học sinh tiếp cận, chuẩn bị cho việc sản sinh ra văn bản gồm có: Kĩ năng phân tích đề bài, kĩ năng tìm ý và lựa chọn ý, kĩ năng xây dựng dàn ý.

b.Nhóm kĩ năng viết văn bản, gồm có các kĩ năng: Dùng từ, đặt câu, viết đoạn, liên kết đoạn văn thành bài văn. Trong bốn kĩ năng này, thì kĩ năng viết đoạn văn và kĩ năng liên kết đoạn thành bài văn là hai kĩ năng đặc trưng, chủ yếu của phân môn tập làm văn.

c.Nhóm kĩ năng kiểm tra kết quả (được dùng trong giai đoạn kiểm tra kết quả bài làm của học sinh), gồm có các kĩ năng sau: kĩ năng phát hiện lỗi, từ lỗi về cách dùng từ, lỗi chính tả, lỗi đặt câu đến lỗi viết văn bản, lỗi về nội dung, cảm xúc…được thể hiện rõ nét trong bài làm của học sinh.

Như vậy, bài tập làm văn của học sinh (lớp 4-5) là sản phẩm của sự vận dụng tổng hợp các kiến thức và kĩ năng tiếp nhận được trong quá trình học tập các môn học nói chung. Do vậy, từ việc nắm ý tới việc diễn đạt thành văn, từ văn nói đến văn viết có một khoảng cách khá xa. Vì thế, bên cạnh việc bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn văn, tư tưởng, vốn sống cho học sinh qua các bài học ở các phân môn tiếng Việt; mỗi quý thầy giáo, cô giáo còn phải chú trọng rèn luyện kĩ năng viết bài văn cho các em theo những yêu cầu từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí và khả năng tư duy của trẻ.

2.Cụ thể trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần rèn luyện cho học sinh các kĩ năng viết bài tập làm văn như sau:

a. Kĩ năng viết những câu văn sinh động, gợi tả, gợi cảm, giàu hình ảnh và nhạc điệu:

Từ cách dẫn dắt, gợi mở của giáo viên và từ một ý cho trước hay từ một câu đơn (chỉ có một cụm chủ ngữ, vị ngữ), giáo viên hướng dẫn học sinh tập mở rộng câu bằng cách thêm các thành phần phụ cho câu như: trạng ngữ, bổ ngữ, động từ, tính từ, từ láy, từ tượng hình, từ tượng thanh,…Sử dụng các hình ảnh, chi tiết sinh động biểu cảm; các biện pháp nghệ thuật như: nhân hoá, so sánh, điệp từ, điệp ngữ, hoán dụ, phóng đại,…làm cho cách diễn đạt câu văn, đoạn văn, thêm cụ thể, sống động giúp người đọc như cùng cảm nhận với mình.

Yêu cầu rèn luyện kĩ năng này có thể thực hiện ở các tiết học luyện từ và câu hoặc tiết trả bài tập làm văn. Bài tài tập luyện viết câu sẽ gúp học sinh có ý thức viết văn ngày càng chặt chẽ về ý tứ, sinh động, giàu xúc cảm,…từ đó giúp các em thêm hứng thú học tập môn tiếng Việt nói chung và phân môn tập làm văn nói riêng. Sau đây là một số ví dụ (bài tập) về cách dùng từ, viết câu văn sinh động:

*Bài tập 1: Từ những câu văn đã cho, viết lại cho sinh động, gợi cảm xúc bằng cách thêm biện pháp nghệ thuật:

-Các em học sinh quần áo đủ màu sắc sặc sỡ đang nô đùa trên sân trường.

+Các em học sinh quần áo đủ màu sắc sặc sỡ đang nô đùa trên sân trường tựa như một đàn bướm xinh tung tăng bay lượn. (Biện pháp so sánh).

-Bông hoa hồng xinh đẹp.

+Bông hoa hồng xinh đẹp đang tươi cười và thì thầm toả hương thơm. (Biện pháp nhân hoá).

- Tôi yêu những người dân đi biển làng tôi, mặt biển trong xanh dậy sóng và những con thuyền rẽ sóng ra khơi.

+ Tôi yêu những người dân đi biển làng tôi, yêu mặt biển trong xanh dậy sóng và yêu những con thuyền rẽ sóng ra khơi. (Biện pháp điệp từ).

-Xa xa, những cánh buồm nhấp nhô trên sông, mấy người dân chài thấp thoáng, vài cách chim chiều tản mạn bay về tổ.

+Xa xa, nhấp nhô những cánh buồm trên sông, thấp thoáng mấy người dân chài, tản mạn vài cánh chim chiều bay về tổ. (Biện pháp đảo ngữ).

*Bài tập 2: Điền thêm từ thích hợp vào chỗ dấu chấm chấm để tạo thành những câu văn gợi tả, gợi cảm:

-Cổng trường…chúng em vào lớp.

+Cổng trường đang giang rộng vòng tay đón chúng em vào lớp. (Biện pháp nhân hoá).

- Chú mèo mướp có đôi mắt tròn đen…

+Chú mèo mướp có đôi mắt tròn đen như hai hạt nhãn, bộ râu rung rung trắng như cước. (Biện pháp so sánh).

- Tôi lớn lên bằng…

+Tôi lớn lên bằng tình thương của mẹ, tình thương của cha, tình thương chở che của bà con làng xóm. (Biện pháp điệp ngữ).

*Bài tập 3: Diễn đạt lại những câu văn sau đây bằng cách thêm các từ ngữ, các biện pháp nghệ thuật cho sinh động, gợi cảm.

-Đôi cánh gà mẹ xoè ra rất rộng.

+Đôi cánh gà mẹ xoè ra rất rộng như một chiếc ô vững chãi che chở cho đàn con khỏi mưa.

-Cô Hiền Ngọc bước vào lớp nhẹ nhàng.

+Cô Hiền Ngọc bước vào lớp nhẹ nhàng như làn gió xuân, mắt nhìn cả lớp thật âu yếm và mến thương.

-Chiếc bảng đen xinh xắn.

+Chiếc bảng đen xinh xắn, mỗi khi chúng em lau, cậu ta nhoè nhoẹt  nước mắt nhưng học hành lại rất chăm chỉ.

Ngoài cách viết câu, dùng từ, ngữ nêu trên; trong giảng dạy giáo viên cần hướng dẫn học sinh chú ý đến các đặc điểm cấu tạo của từ tiếng Việt là đa dạng về kiểu loại ( từ đơn, từ ghép, từ láy), phong phú về ý nghĩa (từ một nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm khác nghĩa,…), linh hoạt về cách sử dụng (từ dùng trong sinh hoạt, trong sách vở khoa học, từ địa phương, từ nghề nghiệp,…).

b.Kỹ năng viết đoạn văn đảm bảo sự liên kết chặt chẽ về ý:

Để thực hiện tốt kỹ năng này, trước hết cần phải quan sát kĩ đối tượng, tìm được nhiều ý, nhiều chi tiết, biết sắp xếp các ý theo một trình tự rõ ràng, hợp lý,…Trong phân môn luyện từ và câu, có một số bài tập rèn kĩ năng viết đoạn văn, cần được giáo viên chú ý để hướng dẫn học sinh lập ý trước khi cho học sinh viết thành lời văn cụ thể, nhằm bổ trợ thiết thực “lô gích”, “đồng tâm” cho phân môn tập làm văn ở tiểu học.

ở tiết trả bài tập làm văn, giáo viên cần cho học sinh luyện viết lại phần mở bài, kết bài hay một đoạn của phần thân bài để học sinh tự rút kinh nghiệm sau khi giáo viên đã chữa bài tập trên lớp. Qua luyện tập, giúp học sinh chắt lọc được kiến thức trọng tâm và bước đầu ý thức được sự “ liên kết ý” trong đoạn văn, tức là: Giữa các câu văn có sự liền mạch, có quan hệ về ý với nhau, không rời rạc, lộn xộn. Các ý trong một đoạn văn được diễn tả theo một trình tự nhất định ( trình tự về không gian, trình tự về thời gian, trình tự tâm lý) nhằm minh hoạ và cụ thể ý chính. ở phân môn luyện từ và câu (Sách TV5, tập 2), các em học sinh đã được học vài biện pháp liên kết đơn giản như sau:

- Bài:“Liên kết các câu trong bài bằng cách lặp từ ngữ” (TV5, tập 2, trang 71-72).

+ Khái niệm:Lặp từ ngữ là phương thức liên kết thực hiện bằng cách lặp lại ở câu thứ hai một hay nhiều từ ngữ đã xuất hiện ở câu thứ nhất.

-Ví dụ: ở mảnh đất ấy, tháng giêng, tôi đi đốt bãi, đào ổ chuột; tháng tám nước lên tôi đánh giậm, úp cá, đơm tép; tháng chín, tháng mười, đi móc con da  dưới vệ sông. ở mảnh đất ấy, những ngày chợ phiên, dì tôi lại mua cho vài cái bánh rợm; đêm nằm với chú, chú gác chân lên tôi mà lẩy kiều ngâm thơ…

(Tình quê hương, Nguyễn Khải).

- Bài: "Liên kết các câu trong bài bằng cách thay thế từ ngữ” (TV5, tập2, trang 76-77).

+ Khái niệm: Khi các câu trong đoạn văn cùng nói về một người, một vật, một việc, ta có thể dùng đại từ hoặc những từ đồng nghĩa thay thế cho từ ngữ đã dùng ở câu đứng trước để tạo mối liên hệ giữa các câu và tránh lặp từ. Biện pháp liên kết như vậy gọi là phép thế.

- Ví dụ: Những con ngan nhỏ mới nở được ba hôm chỉ to hơn cái trứng một tý. Chúng có bộ lông vàng óng. Một màu vàng đáng yêu như màu vàng của những con tơ nõn mới guồng…(Đàn ngan mới nở. TV4, tập 2, trang 119).

- Bài: “Liên kết các câu trong bài bằng từ ngữ nối” (TV5, tập 2, trang 97-98).

+ Khái niệm:Để thể hiện mối quan hệ về nội dung giữa các câu trong bài, ta có thể liên kết các câu ấy bằng quan hệ từ hoặc một số từ ngữ có tác dụng chuyển tiếp như: nhưng, tuy nhiên, thậm chí, ngoài ra, cuối cùng, mặt khác, trái lại, đồng thời, đến khi,…

-Ví dụ: Trên con đường từ nhà đến trường, tôi phải đi qua bờ Hồ Gươm. Lúc có bạn thì chuyện trò tiếu tít, có khi đuổi nhau suốt dọc đường. Nhưng khi một mình, tôi thích ôm cặp vào ngực, nhìn lên các vòm cây, vừa đi vừa lẩm nhẩm ôn bài. (Qua những mùa hoa, TV5, tập 2, trang 98).

Ngoài những bài hướng dẫn học sinh sử dụng phương pháp liên kết câu nêu trên, trong sách tiếng Việt lớp 5 còn có 5 bài học hướng dẫn học sinh hình thành kiến thức, kĩ năng về cách “Nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ” và “Nối các vế câu ghép bằng cặp từ hô ứng”. Mà mỗi quý thầy cô giáo cần lưu tâm dạy kĩ, có chiều sâu, để bổ trợ thiết thực cho phân môn Tập làm văn, khi các em luyện viết câu, đoạn, bài trong một kiểu bài cụ thể. Nhằm thực hiện đúng nội dung, chương trình dạy học là “Vòng tròn đồng tâm”. Bên cạnh đó cũng cần lưu tâm để nhận xét kết quả trình bày bài làm của học sinh về ý ( đã đúng, đủ, cụ thể chưa) và về lời (dùng từ, đặt câu, diễn đạt có hay, có chính xác không, bộc lộ cảm xúc như thế nào,…).

c. Rèn kĩ năng viết bài văn có bố cục chặt chẽ, có lời văn phù hợp với yêu cầu nội dung, thể loại và kiểu bài:

Học sinh viết theo giàn bài đã được góp ý, chỉnh sửa từ tiết học trước. Để bài làm của các em có bố cục chặt chẽ, cần hướng dẫn học sinh biết cách liên kết các đoạn văn bằng những từ ngữ như: chẳng bao lâu, từ lâu, tuy vậy, trong khi đó,…Nhắc nhở học sinh xuống dòng khi kết thúc đoạn văn, mở đầu đoạn tiếp theo bằng câu nối vào ý khác, làm cho bài văn trong sáng, mạch lạc, khúc chiết. Chữ viết phải rõ ràng và cố gắng rèn viết chữ đẹp. Bài làm cần sáng sủa, sạch sẽ, lưu ý nhắc nhở các em nắm vững các đặc điểm về thể loại, kiểu bài tập làm văn như: “ tả người”- cần lựa chọn những động từ chỉ hoạt động, động từ chỉ trạng thái sát hợp; dùng những tính từ gợi hình ảnh, gợi cảm xúc; những từ tượng thanh, tượng hình thích hợp; dùng các hình ảnh so sánh, ví von sinh động…để vừa gợi tả cho cụ thể, vừa thể hiện tình cảm, thái độ của mình với người được miêu tả.

Vẻ đẹp của một bài văn hay, không chỉ ở ý nghĩa nội dung, bộc lộ cảm xúc mà nội dung và cảm xúc đó phải được thể hiện thông qua vẻ đẹp của tiếng Việt. Trong giảng dạy, cần hướng dẫn học sinh tiểu học đi từ những cái cụ thể, chắt lọc những điều quan trọng về kiến thức, kĩ năng để truyền thụ cho các em. Khơi dậy tính kiên trì học hỏi, kiên trì rèn luyện ở các em. Gắn kiến thức, đề tài với vốn sống, vốn hiểu biết của học sinh, đánh thức ở các em những gì các em đang có và “phát triển ” dần lên.

Nguyễn Văn Đông

Nguồn tin: dvhnn.org.vn

  ________



Home || Materials || Flash Cards || Songs For Kids|| Free Games || Gogo's Adventures with English || Teaching English For Childern|| ESL/EFL Kids Course ||

Designed by Tieng Anh cho tre em| Day tieng Anh o Tieu hoc.  Moodle Themes web hostingValid XHTML and CSS.